Những điều cần biết về tổ chức Công đoàn Việt Nam

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

1. Vị trí

Vị trí của Công đoàn Việt Nam được Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

a) Mối quan hệ giữa Công đoàn Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam

Công đoàn Việt Nam là sợi dây nối liền giữa Đảng với giai cấp công nhân, với toàn thể người lao động.

Mối quan hệ giữa Công đoàn và Đảng Cộng sản trong chặng đầu quá độ lên chủ nghĩa xă hội ở nước ta thể hiện: Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn, mặt khác thể hiện trách nhiệm của Công đoàn trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và tham gia xây dựng Đảng.

+ Công đoàn hoạt động không thể thiếu sự lãnh đạo của Đảng và Đảng là bộ phận tiên phong nhất, tích cực nhất của giai cấp công nhân. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn được hình thành trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam đã tham gia tích cực trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

+ Đảng lãnh đạo Công đoàn bằng đường lối, chủ trương, nghị quyết của đại hội, nghị quyết của cấp uỷ đảng. Công đoàn Việt Nam với chức năng của mình triển khai đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng thành chương trình công tác của tổ chức mình.

+ Đảng lãnh đạo Công đoàn thông qua phát huy vai trò của từng đảng viên trong tổ chức công đoàn các cấp.

+ Đảng tôn trọng tính độc lập về mặt tổ chức của tổ chức Công đoàn, không can thiệp, không gò ép cán bộ của Đảng làm công tác Công đoàn. Đảng chỉ giới thiệu những đảng viên là đoàn viên ưu tú để Công đoàn xem xét,                 tín nhiệm bầu vào ban lãnh đạo công đoàn các cấp thông qua đại hội.

+ Tính độc lập về mặt tổ chức của Công đoàn có nghĩa là: Công đoàn xây dựng tổ chức và hoạt động phù hợp với Điều lệ của tổ chức Công đoàn Việt Nam trên cơ sở nghị quyết đại hội công đoàn các cấp. Cần tránh nhận thức sai lầm về sự lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn là sự can thiệp trực tiếp của Đảng vào công việc của Công đoàn. Đảng không gán ghép cán bộ của Đảng làm công tác Công đoàn, mà Đảng chỉ giới thiệu những đảng viên tốt để đại hội công đoàn lựa chọn và bầu vào các cương vị lãnh đạo Công đoàn. Đồng thời không được đồng nhất tính độc lập về mặt tổ chức của Công đoàn với sự “biệt lập”, “trung lập”, “đối lập”, “tách biệt” của Công đoàn với Đảng dẫn đến xa rời sự lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn. Nếu nhằm lẫn sẽ dẫn đến sự lệch lạc mục tiêu hoạt động và không còn đúng bản chất của Công đoàn cách mạng.

+ Đảng kiểm tra Công đoàn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.

b) Trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam đối với Đảng

+ Công đoàn là người tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chế độ, chính sách và nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với công nhân, viên chức, lao động, đồng thời vận động, tổ chức cho công nhân, viên chức, lao động thực hiện nghiêm túc.

+ Công đoàn thường xuyên tổ chức cho đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động tham gia góp ý xây dựng Đảng với tinh thần thẳng thắn, chân tình, trung thực và xây dựng.

+ Công đoàn thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện công nhân, viên chức, lao động, từ để lựa chọn, giới thiệu những đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp, nhằm bổ sung, tăng cường thành phần công nhân trong Đảng.

+ Công đoàn nắm những tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc của công nhân, viên chức, lao động phản ánh với Đảng, để Đảng nghiên cứu đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của công nhân, viên chức lao động.

c) Mối quan hệ giữa Công đoàn Việt Nam với Nhà nước

+ Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mối quan hệ giữa Công đoàn Việt Nam với Nhà nước là mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, tôn trọng, phối hợp chặt chẽ với nhau trong các mặt hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu chung là: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

+ Nhà nước luôn tạo cho tổ chức Công đoàn về điều kiện vật chất, ban hành các văn bản pháp lý, tạo cơ sở pháp lý cho Công đoàn hoạt động; giữa Công đoàn và Nhà nước không có sự đối lập.

+ Công đoàn Việt Nam luôn cộng tác đắc lực với Nhà nước, góp phần xây dựng chính quyền Nhà nước không ngừng lớn mạnh. Công đoàn là người cung cấp, bồi dưỡng, rèn luyện những cán bộ ưu tú cho Đảng và Nhà nước.

2. Vai trò của Công đoàn Việt Nam

 Khi chưa giành được chính quyền, Công đoàn có vai trò là trường học đấu tranh giai cấp, Công đoàn vận động, tổ chức công nhân, lao động đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, bảo vệ quyền, lợi của công nhân, lao động.  

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 10) đã ghi rõ: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày nay càng được mở rộng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sự mở rộng vai trò Công đoàn là phù hợp với tính tất yếu, khách quan, tính quy luật vận động và phát triển của tổ chức Công đoàn, nó phù hợp với quy luật chung của quá trình xây dựng chủ nghĩa xă hội thể hiện trong các lĩnh vực:

* Về chính trị

Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa. Tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực thi pháp luật và để Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Để đảm bảo sự ổn định về chính trị.

* Về kinh tế: Công đoàn tham gia xây dựng hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế nhằm xoá bỏ quan liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở mở rộng dân chủ. Góp phần củng cố những thành tựu kinh tế văn hoá và khoa học kỹ thuật đã đạt được trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có lợi cho quốc gia, dân tộc. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước đưa kinh tế tri thức vào Việt Nam, góp phần nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hoạt động của các thành phần kinh tế vẫn đảm bảo cho kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, đóng vai trò chủ đạo.

* Về văn hoá - tư tưởng: Trong nền kinh tế nhiều thành phần, Công đoàn phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân, viên chức, lao động nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

* Về xã hội: Công đoàn có vai trò trong tham gia xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, có nhãn quan chính trị, thực sự là lực lượng nòng cốt của khối liên minh công - nông - trí thức, làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở vững chắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước.

3. Chức năng nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam

Chức năng của Công đoàn mang tính khách quan, nó tồn tại không phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng của mỗi đoàn viên, nó được xác định bởi tính chất, vị trí và vai trò của Công đoàn. Không ai có thể tuỳ tiện gắn cho Công đoàn những chức năng không phù hợp với bản chất. Song cũng không nên cố định một cách cứng nhắc chức năng của Công đoàn. Cùng với sự phát triển của xã hội, chức năng của Công đoàn cũng phát triển, ở mỗi một điều kiện lịch sử - xã hội khác nhau, Công đoàn thực hiện những chức năng khác nhau và nó luôn luôn được bổ sung những nội dung mới, ý nghĩa mới. Các chức năng của Công đoàn gắn chặt với các mặt hoạt động của đời sống xã hội: Sản xuất, kinh doanh, quản lý, kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Chức năng của Công đoàn trong chế độ xã hội chủ nghĩa khác hẳn về chất so với chức năng của Công đoàn trong chủ nghĩa tư bản, có sự khác nhau đó là do sự thay đổi vị trí, vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn trong xã hội quyết định.

Công đoàn Việt Nam có tính chất quần chúng và tính chất giai cấp của giai cấp công nhân và có 3 chức năng cơ bản sau:

 Chức năng thứ nhất: Đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động

Một trong những chức năng của Công đoàn Việt Nam hiện nay là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động.

Công đoàn Việt Nam phải thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích công nhân lao động, vì thực tế hiện nay của nước ta, trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công nhân lao động làm việc trong sự quản lý của chủ doanh nghiệp đã xuất hiện quan hệ chủ thợ, tình trạng vi phạm quyền, lợi ích của công nhân lao động có xu hướng tăng. Vì vậy, chức năng bảo vệ lợi ích công nhân, viên chức và lao động của Công đoàn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Để thực hiện chức năng này, Công đoàn phải chủ động tham gia cùng chủ doanh nghiệp tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho công nhân lao động; Công đoàn tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, trong việc ký kết hợp đồng lao động; đại diện công nhân, lao động ký kết thoả ước lao động tập thể; trong vấn đề thương lượng, giải quyết tranh chấp lao động... Trong quá trình thực hiện các nội dung hoạt động nhằm thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc các vấn đề cơ bản như:

Lợi ích người lao động gắn liền với lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; Nhà nước là người bảo đảm, Công đoàn là người bảo vệ lợi ích.   Đây là vấn đề quan trọng nói lên mối quan hệ khăng khít, biện chứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, đồng thời nó là cơ sở nhận thức về lợi ích của công nhân, viên chức, lao động trong tình hình mới, thể hiện đúng bản chất cách mạng của Công đoàn Việt Nam.

Chức năng thứ hai: Tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế

Trong điều kiện giai cấp công nhân giành được chính quyền, người lao động trở thành người chủ, họ có quyền và có trách nhiệm tham gia quản lý kinh tế, xã hội. Vì vậy, vấn đề tham gia quản lý đã trở thành chức năng của Công đoàn. Tuy nhiên cần nhận thức rằng, Công đoàn tham gia quản lý chứ không làm thay, không cản trở, không can thiệp thô bạo vào công việc quản lý của Nhà nước. Công đoàn tham gia quản lý thực chất là để thực hiện quyền của Công đoàn, quyền của công nhân, viên chức, lao động và để bảo vệ đầy đủ các quyền, lợi ích của người lao động.

Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi thực hiện chức năng tham gia quản lý, Công đoàn Việt Nam cần quan tâm đến việc phát triển tiềm năng lao động, phát huy sáng kiến, cùng giám đốc, thủ trưởng đơn vị tìm nguồn vốn, thị trường để mở rộng sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm cho người lao động. Kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, chống quan liêu, tham nhũng.

Những nội dung Công đoàn tham gia quản lý tại cơ sở

Trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tế hoạt động công đoàn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, có thể xác định những nội dung công đoàn cơ sở tham gia quản lý như sau:

- Hướng dẫn người lao động; tham gia với người sử dụng lao động ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật.

- Tham gia giải quyết việc làm và bảo đảm việc làm cho người lao động. Đào tạo và đào tạo lại nghề của người lao động khi bố trí sắp xếp lại sản xuất, thay đổi công nghệ, các biện pháp hợp lý hóa sản xuất, các biện pháp nâng cao năng suất, chất lượng.

- Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, các chế độ tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp cho người lao động.

- Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các nội quy, quy chế của đơn vị, doanh nghiệp.

- Tham gia xây dựng và giám sát định mức lao động, thời gian làm việc, nghỉ ngơi.

- Tham gia thực hiện các chế độ về bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động.

- Tham gia, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các loại bảo hiểm khác mà đơn vị, doanh nghiệp tham gia, theo quy định của pháp luật.

- Tham gia thực hiện chế độ khen thưởng, kỷ luật công nhân lao động.

- Tham gia phân phối quỹ phúc lợi và chăm lo đời sống cho người lao động.

- Tham gia, phối hợp tổ chức các phong trào thi đua trong lao động, sản xuất, nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay nghề cho người lao động.

- Tham gia giải quyết tranh chấp lao động.

Chức năng thứ ba: Tuyên truyền, giáo dục, động viên CNVCLĐ thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,  pháp luật của Nhà nước

Chức năng giáo dục của Công đoàn Việt Nam ngày càng mở rộng và phát triển thông qua hoạt động thực tiễn trong lao động sản xuất và tham gia các phong trào thi đua..., góp phần làm cho công nhân, viên chức và lao động nhận thức và hiểu được lợi ích của họ gắn với lợi ích tập thể, lợi ích của xã hội. Muốn có lợi ích và muốn lợi ích của mình được bảo vệ trước hết, phải thực hiện tốt nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ của người công dân đối với cơ quan, xí nghiệp và xã hội. Trên cơ sở đó xây dựng ý thức lao động mới, lao động có kỷ luật và có tác phong công nghiệp. Nâng cao tinh thần tự giác học tập văn hoá, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện tay nghề để đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

+ Công đoàn tuyên truyền, giáo dục cho công nhân, viên chức, lao động vững tin vào đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn. Giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc, của địa phương (nhất là đối với công nhân lao động trẻ).

+ Tuyên truyền chính sách, pháp luật của Nhà nước. Giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, xây dựng lối sống văn hoá lành mạnh, sống và làm việc theo pháp luật góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh. Với tinh thần thường xuyên cảnh giác và đấu tranh chống lại những âm mưu thù địch.

Chức năng của Công đoàn là một chính thể, một hệ thống đồng bộ, trong  đó chức năng bảo vệ lợi ích hết sức được coi trọng, mang ý nghĩa trung tâm, là mục tiêu hoạt động của Công đoàn Việt Nam; chức năng tham gia quản lý mang ý nghĩa phương tiện; chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần để đạt được mục tiêu. Do vậy, Công đoàn Việt Nam đồng thời quan tâm tới cả 3 chức năng, không coi nhẹ chức năng này, xem nặng chức năng kia.

4. Tính chất của Công đoàn Việt Nam

* Công đoàn Việt Nam là tổ chức không mang tính chất đảng phái mà là tổ chức liên minh của giai cấp công nhân và người lao động. Vì vậy Công đoàn            Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam.

* Công đoàn Việt Nam có hai tính chất là: tính chất giai cấp và tính chất quần chúng:

Tính chất giai cấp được thể hiện:

+ Công đoàn Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản           Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân.

+ Mục đích hoạt động của Công đoàn Việt Nam vì lý tưởng của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam.

+ Xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam đảm bảo thống nhất hoạt động của giai cấp công nhân Việt Nam.

Tính chất quần chúng được thể hiện:

+ Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội rộng lớn của công nhân, viên chức, lao động Việt Nam. Tất cả công nhân, viên chức, lao động Việt Nam nếu tán thành Điều lệ Công đoàn, tự nguyện sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở của công đoàn, đóng đoàn phí đầy đủ thì được gia nhập công đoàn.

+ Cơ quan lãnh đạo của công đoàn do đoàn viên tín nhiệm bầu ra.

+ Công đoàn xây dựng đội ngũ cán bộ xuất thân từ công nhân, viên chức, lao động và trưởng thành tự hoạt động quần chúng.

+ Nội dung hoạt động của công đoàn đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của công nhân, viên chức, lao động.

5. Nguyên tắc hoạt động công đoàn

Nguyên tắc là những tập hợp quy định, quy tắc chỉ đạo hành động. Nguyên tắc hoạt động Công đoàn là những quy định cơ bản, ổn định; là chuẩn mực để hướng dẫn nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động, thực hiện chức năng của Công đoàn và được thiết lập ngay từ ngày đầu xuất hiện tổ chức:

* Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam. Tất cả những thành viên trong hệ thống chính trị trong đó có Công đoàn đều đặt hoạt động của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tức là đảm bảo hoạt động của Công đoàn luôn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vào chương trình hoạt động của mình. Thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc thông tin báo cáo tình hình và kết quả hoạt động.

* Liên hệ mật thiết với quần chúng

Công đoàn là tổ chức quần chúng rộng lớn của công nhân, viên chức, lao động, ngược lại công nhân, viên chức, lao động là cơ sở xã hội của Công đoàn. Sức mạnh của Công đoàn là mối liên hệ mật thiết với quần chúng để thu hút, tập hợp, thống nhất ý chí hành động. Nếu xa rời quần chúng Công đoàn sẽ không còn “đất hoạt động”. Cán bộ công đoàn cần nhận thức đầy đủ về vai trò quyết định của quần chúng, tăng cường mối quan hệ với quần chúng, hòa mình với quần chúng, giành được niềm tin của quần chúng, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của họ để hướng hoạt động của Công đoàn đáp ứng được yêu cầu càng mới càng cao của quần chúng. Liên hệ mật thiết với quần chúng thường được cụ thể bằng sự tiếp cận, đi lại thăm hỏi trong những dịp sinh nhật, hiếu, hỷ, lễ, tết; tổ chức các hoạt động quần chúng; chia sẻ, lắng nghe ý kiến phản ánh của quần chúng.

 

* Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng

Tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn là người đoàn viên tự nguyện gia nhập tổ chức công đoàn, tự nguyện tham gia, thực hiện các nhiệm vụ được giao trên cơ sở nhận thức được trách nhiệm và lợi ích của công việc mà chính mình có bổn phận hoàn thành. Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn có nghĩa là không gò ép, áp đặt mà để đoàn viên tự giác tham gia hoạt động. Trước khi tiến hành một việc dù nhỏ, dù lớn cũng cần có sự giải thích, tuyên truyền thuyết phục để đoàn viên hiểu ý nghĩa, nhận thức trách nhiệm, tự nguyện hành động. Muốn vậy, những hoạt động của Công đoàn phải có nội dung sát thực với những vấn đề mà quần chúng quan tâm, hình thức thể hiện hấp dẫn, lôi cuốn quần chúng tham gia. Tuy nhiên cũng không chiều theo ý muốn quần chúng, khi những vấn đề chưa phù hợp với nguyện vọng đông đảo của công nhân, viên chức, lao động.

* Tập trung dân chủ:

Trong hoạt động công đoàn, tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản của Công đoàn Việt Nam đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí và hành động chống sự “tập trung quan liêu” và “dân chủ vô tổ chức”. Công đoàn Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:

- Cơ quan lãnh đạo của các cấp công đoàn đều do bầu cử lập ra.

- Quyền quyết định cao nhất của mỗi cấp công đoàn thuộc về đại hội công đoàn cấp đó.

- Giữa 2 kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo cao nhất là ban chấp hành do đại hội cấp đó bầu ra (Trong trường hợp đặc biệt Công đoàn cấp trên có thể chỉ định ban chấp hành cấp dưới nhưng không quá 12 tháng).

- Ban chấp hành công đoàn các cấp thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức.

6. Phương pháp hoạt động công đoàn

Phương pháp là cách thức, là con đường, phương tiện để đạt tới mục đích. Phương pháp hoạt động Công đoàn là cách thức làm việc của cán bộ công đoàn và đoàn viên trên cơ sở mục đích, nội dung và nguyên tắc đã xác định.

* Phương pháp thuyết phục

Đó là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, bằng lý lẽ và việc làm mẫu mực để người được thuyết phục hiểu được mục đích của vấn đề tin theo và làm theo. Có nhiều dạng thuyết phục: thuyết phục bằng tình cảm, bằng lý trí, bằng khuyến khích lợi ích hoặc đề cao nghĩa cử để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ mà tham gia hoạt động.

Thuyết phục là một nghệ thuật, do đó đòi hỏi cán bộ công đoàn phải xâm nhập thực tiễn, sâu sát tình hình, hiểu biết tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh, trình độ đoàn viên và lao động. Người thuyết phục phải có uy tín, có trình độ hiểu biết nhất định. Điều đó biểu hiện bằng hành vi, lối sống chuẩn mực, tri thức, lý luận, tâm lý, khả năng truyền cảm… Các bước thuyết phục thường từ thăm hỏi, động viên, chia sẻ, giúp đỡ…, sau là bày tỏ nội dung. Đối tượng thuyết phục không chỉ là quá trình tác động từ cán bộ công đoàn đến đoàn viên và người lao động mà còn được vận dụng từ quần chúng đến quần chúng. Đó là thông qua việc nêu gương điển hình và hình thành dư luận xã hội. Đồng thời đối tượng thuyết phục còn cả là người quản lý, sử dụng lao động.

          Để sử dụng phương pháp thuyết phục có hiệu quả trong hoạt động công đoàn, cần tránh tình trạng “nói hay làm dở”, “truy chụp”, “đao to búa lớn”, quan liêu mệnh lệnh, gò ép quần chúng…

* Tổ chức cho quần chúng hoạt động

Tổ chức cho quần chúng hoạt động là công đoàn tổ chức các phong trào thu hút đoàn viên và lao động tham gia hoạt động một cách sâu rộng theo các chuyên đề như: Tổ chức các phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo, thi đua lao động sản xuất đạt năng suất cao, chất lượng tốt, tổ chức tham gia xây dựng thỏa ước lao động tập thể, quy chế dân chủ của đơn vị, tổ chức đối thoại giữa công nhân, viên chức, lao động với người quản lý sử dụng lao động, tổ chức các phong trào văn hoá quần chúng…

Tổ chức cho quần chúng hoạt động nhằm: thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn; nâng cao uy tín và sức mạnh của tổ chức Công đoàn; tạo mối quan hệ mật thiết giữa Công đoàn và quần chúng. Vì vậy, số lượng công nhân, viên chức, lao động tham gia càng lớn thì hiệu quả hoạt động của Công đoàn càng cao.

Tổ chức cho quần chúng hoạt động công đoàn cần nghiên cứu chủ đề có nội dung thiết thực, hình thức hoạt động phù hợp, thời điểm thuận lợi, đồng thời cần tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng, sự tích cực tạo điều kiện của chủ doanh nghiệp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

Trong việc tổ chức quần chúng hoạt động công đoàn phải xây dựng kế hoạch cụ thể chi tiết. Trong đó các ban quần chúng, các công đoàn bộ phận, tổ công đoàn sẽ giúp về tuyên truyền vận động, các đoàn viên có nhiệt tình, năng lực, năng khiếu sẽ làm nòng cốt cho hoạt động…

* Xây dựng hệ thống quy chế và tổ chức hoạt động bằng quy chế

Công đoàn xây dựng và tham gia các quy chế và tổ chức thực hiện theo các quy định là một trong những nội dung đổi mới hoạt động công đoàn. Để xây dựng hệ thống quy chế và tổ chức hoạt động bằng quy chế của Công đoàn phát huy tác dụng, cán bộ công đoàn cần am hiểu luật pháp, nắm vững chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn, đặc điểm tình hình của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Quy chế của một cơ quan, đơn vị là “luật” được thu nhỏ phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị nhưng không trái với pháp luật Nhà nước và Điều lệ Công đoàn. Trong quá trình thực hiện quy chế, Công đoàn cần sử dụng tổng hợp các phương pháp Công đoàn, thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện những bất hợp lý trong quy chế, để sửa đổi bổ sung cho hoàn thiện.

Công đoàn cần xây dựng và thực hiện các loại quy chế sau:

1. Quy chế hoạt động trong nội bộ của tổ chức Công đoàn là những quy định về lề lối làm việc, nhiệm vụ và trách nhiệm của ban chấp hành, của chủ tịch, của các ủy viên ban chấp hành và các chức danh khác của Công đoàn.

2. Quy chế phối hợp hoạt động giữa ban chấp hành với thủ trưởng cơ quan, đơn vị cùng cấp là những quy định về cơ chế phối hợp hoạt động giữa ban chấp hành Công đoàn với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai bên và tạo điều kiện hỗ trợ nhau thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên vì mục đích chung của cơ quan, đơn vị.

3. Quy chế quản lý cơ quan, đơn vị là những quy định trách nhiệm, quyền hạn của mỗi thành viên trong cơ quan, đơn vị, nhằm góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị không ngừng phát triển.

4. Quy chế chi tiêu nội bộ nhằm bảo đảm sự công khai, dân chủ, minh bạch trong chi tiêu của tổ chức công đoàn.

Ngoài ra có thể xây dựng một số nội quy, quy chế khác tùy theo điều kiện cụ thể của tổ chức công đoàn./.

Đức Tuấn (st&bs)