Nâng cao chất lượng thương lượng, ký và thực hiện có hiệu quả thỏa ước lao động tập thể của các cấp công đoàn tỉnh Bắc Giang

           Theo quy định tại khoản 1, Điều 73 của Bộ luật Lao động 2012 thì thỏa ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể. Để có thỏa ước lao động tập thể, hai bên phải tiến hành quy trình thương lượng, thỏa thuận và ký mang tính chất tập thể, thông qua đại diện của tập thể lao động và đại diện sử dụng lao động. Thoả ước lao động tập thể cụ thể hoá các quy định của pháp luật phù hợp với tính chất, đặc điểm của doanh nghiệp, làm cơ sở pháp lý, là cộng đồng trách nhiệm của hai bên trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ, có những lợi ích cao hơn so với quy định của pháp luật. Trong nền kinh tế thị trường, Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên trong quan hệ lao động, trên cơ sở đó, xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ, cùng nhau hợp tác vì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và cũng là một công cụ rất quan trọng của Công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

           Trong thời gian qua, Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang đã đặc biệt quan tâm, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp công đoàn trong tỉnh nghiên cứu, triển khai thực hiện việc xây dựng, thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp. Hàng năm, Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang đã chỉ đạo các cấp công đoàn tổ chức chấm điểm, đánh giá, phân loại chất lượng thương lượng tập thể, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể của đơn vị, doanh nghiệp mình. Năm 2019, việc thực hiện thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể đạt nhiều kết quả tích cực, hiệu quả tốt. Tổng số doanh nghiệp đã thành lập công đoàn cơ sở: 593 doanh nghiệp ; Tổng số CĐCS đã ký thỏa ước lao động tập thể: 492/593 (82,9%), kết quả cụ thể: xếp loại A: 189 bản (38,4%), loại B: 180 bản (36,6%), Loại C: 51 bản (10,4%), loại D:13 bản (2,6%) và không phân loại: 59 bản (12%).

          Các bản thỏa ước lao động tập thể đã ký có nhiều nội dung thiết thực, có lợi hơn, đạt được nhiều điều khoản cao hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động, phù hợp với khả năng, điều kiện của doanh nghiệp và tập trung vào các vấn đề cơ bản như: tiền lương tối thiểu cao hơn 3 - 5% so với mức lương tối thiểu của Chính phủ quy định, tiền lương thử việc ít nhất bằng 90%, khoảng cách chênh lệch giữa hai bậc lương liền kề ít nhất 6%, thưởng tháng lương thứ 13, giá trị bữa ăn ca từ 15.000đ trở lên, các nội dung hiếu, hỉ, trợ cấp khó khăn, thăm hỏi khi ốm đau, trợ cấp khó khăn đột xuất, tham quan nghỉ mát... Một số công đoàn cấp trên cơ sở (LĐLĐ thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang, huyện Hiệp Hòa) đã đại diện tập thể người lao động thực hiện thương lượng, ký được 10 bản thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở. Thông qua các bản thỏa ước, người sử dụng lao động đã thể hiện sự quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, tạo sự tin tưởng, gắn bó của người lao động với doanh nghiệp, làm tăng năng suất lao động cho doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp thấy được được ý nghĩa quan trọng của thỏa ước lao động tập thể nên đã chú trọng tới việc thương lượng, một số doanh nghiệp phải tiến hành thương lượng nhiều lần mới đạt được sự thỏa thuận.

          Tuy đã có những chuyển biến tích cực, song việc thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể trên địa bàn tỉnh Bắc Giang vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Số bản thỏa ước thương lượng và ký chưa theo đúng trình tự, quy định của pháp luật lao động còn nhiều, dẫn đến tính hình thức, chưa đi vào thực chất. Chất lượng các bản thỏa ước tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng của người lao động. Nội dung có lợi cho người lao động về tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi còn ít, chủ yếu vẫn tập trung vào các nội dung liên quan đến phúc lợi cho người lao động. Ngoài ra, cũng có không ít doanh nghiệp có thỏa ước để hợp thức hóa, mang tính đối phó. Việc đánh giá, sửa đổi, bổ sung, ký lại thỏa ước cho phù hợp với chế độ, chính sách mới và tình hình thực tế của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật còn chưa kịp thời.

           Nguyên nhân của những tồn tại này, trước hết là do nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp chưa sử dụng thỏa ước như là một bộ luật của doanh nghiệp để giải quyết các vấn đề về quan hệ lao động phát sinh trong doanh nghiệp. Có doanh nghiệp không thực hiện đúng, đủ những cam kết trong thỏa ước với lý do khách quan, việc giám sát thực hiện thỏa ước của công đoàn cơ sở, người lao động còn không tốt, chưa đấu tranh quyết liệt. Bên cạnh đó, cán bộ công đoàn cơ sở (những người trực tiếp thương lượng và ký kết, thực hiện thỏa ước lao động tập thể) hoạt động kiêm nhiệm, thường xuyên biến động, hạn chế về thời gian hoạt động, phụ thuộc nhiều vào sự quản lý của người sử dụng lao động, chưa nắm vững các quy định của pháp luật và còn thiếu kỹ năng, hạn chế trong việc thương lượng với người sử dụng lao động cũng như đòi hỏi những quyền, lợi ích cao hơn so với quy định của luật cho người lao động. Nguyên nhân nữa trong thực tế thấy rằng, thỏa ước lao động tập thể hầu như không có sự tham gia của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở. Ngoài những văn bản chỉ đạo, công đoàn cấp trên cơ sở chưa phối hợp cùng công đoàn cơ sở trực tiếp tham gia xây dựng, hướng dẫn, giúp đỡ cơ sở thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể. Đồng thời, đội ngũ cán bộ công đoàn cấp trên cơ sở không thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng, phương pháp dẫn đến năng lực còn nhiều hạn chế. Xây dựng thỏa ước chưa theo đúng quy trình cũng là một nguyên nhân gây nên sự hạn chế về nội dung và tác dụng của bản thỏa ước. Hiện nay, có tình trạng chung là: để xây dựng thỏa ước, phần lớn các doanh nghiệp giao cho bộ phận nhân sự - lao động chuẩn bị, soạn thảo, sau đó chuyển công đoàn cơ sở tham gia ý kiến và ký ban hành. Do vậy, nội dung, điều khoản trong thỏa ước chưa xuất phát từ yêu cầu của người lao động, từ thực tế doanh nghiệp mà chỉ là quy ước những nội dung đã có và đang thực hiện.

          Từ thực trạng và những nguyên nhân trên, để xây dựng được những bản   thỏa ước lao động tập thể có giá trị, thực sự vì quyền lợi của người lao động đòi hỏi sự hợp tác tích cực từ nhiều phía, trong đó, vai trò của công đoàn các cấp là hết sức quan trọng và là nhân tố quyết định. Để có thể hoàn thành được chỉ tiêu hàng năm, có 100% doanh nghiệp nhà nước và 70% trở lên doanh nghiệp ngoài nhà nước đã thành lập công đoàn cơ sở ký thỏa ước lao động tập thể; ít nhất 70% TƯLĐTT đã ký được phân loại chất lượng đạt loại B trở lên, các cấp công đoàn tỉnh Bắc Giang cần thực hiện tốt một số biện pháp sau đây:

          Một là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện Nghị định số 149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc; Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Việt Nam; Chương trình số 2494/CTr-TLĐ ngày 19/12/2018 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về “Nâng cao hiệu quả việc thực hiện các nhiệm vụ đại diện cho người lao động, bảo vệ quyền, lợi ích hơp pháp, chính đáng cho người lao động, giai đoạn 2018-2023”; Nghị quyết Đại hội Công đoàn tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII; Chương trình số 06/CTr-LĐLĐ ngày 18/6/2018 của Ban Chấp hành LĐLĐ tỉnh về “Đẩy mạnh hoạt động bảo vệ, chăm lo lợi ích và thực hiện có hiệu quả chương trình phúc lợi cho đoàn viên công đoàn, người lao động giai đoạn 2018 - 2023”.

         Hai là, tích cực tham gia ý kiến sửa đổi các dự thảo văn bản pháp luật quy định về thương lượng, ký thỏa ước lao động tập thể. Tăng cường số lượng các bản thỏa ước lao động tập thể được ký. Rà soát, lập danh sách các doanh nghiệp đã thành lập công đoàn cơ sở có từ 25 lao động trở lên, giao chỉ tiêu ký thỏa ước lao động tập thể tới từng đơn vị. Những doanh nghiệp đang hoạt động, đã thành lập công đoàn cơ sở nhưng chưa ký thỏa ước lao động tập thể thì công đoàn cấp trên cơ sở hỗ trợ thương lượng tập thể. Những doanh nghiệp đang hoạt động, chưa thành lập công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên cơ sở chủ động đại diện tổ chức thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể khi có yêu cầu của người lao động.

         Ba là, nâng cao chất lượng thương lương tập thể. Thống kê các bản thỏa có nội dung sao chép quy định của pháp luật để hỗ trợ, hướng dẫn công đoàn cơ sở thương lượng, sửa đổi, bổ sung, ký lại, ký mới, đảm bảo các bản thỏa ước có nhiều nội dung có lợi hơn so với quy định của pháp luật, có nội dung về tiền lương, hệ thống thang lương, bảng lương, các chế độ phúc lợi... Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn, tham gia cùng CĐCS trong quá trình thương lượng tập thể, đặc biệt tại các doanh nghiệp có đông lao động, quan hệ lao động phức tạp, đã từng xảy ra tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể.

         Bốn là, các cấp công đoàn tổ chức giám sát  và phối hợp tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về đối thoại, thương lượng, ký và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại các đơn vị, doanh nghiệp; phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị, doanh nghiệp ký  thỏa ước lao động tập thể đảm bảo chất lượng. Đề xuất với cấp ủy, chính quyền tổ chức gặp gỡ, tiếp xúc, đối thoại với đoàn viên, người lao động.

          Năm là, tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là cán bộ công đoàn cấp trên cơ sở các nội dung chuyên sâu về chuyên đề thỏa ước lao động tập thể để hướng dẫn, hỗ trợ công đoàn cơ sở. Không tổ chức lồng ghép với các chuyên đề khác, nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ công đoàn các cấp về kiến thức, kỹ năng thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể.

          Sáu là, công đoàn cấp trên cơ sở lựa chọn, hằng năm tổ chức đối thoại, thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể điểm ở ít nhất 03 doanh nghiệp để rút kinh nghiệm từ thực tế.

         Bẩy là, ứng dụng và sử dụng có hiệu quả Thư viện thỏa ước lao động tập thể. Định kỳ xây dựng báo cáo về công tác thỏa ước lao động tập thể trên cơ sở dữ liệu từ Thư viện thỏa ước lao động tập thể.

         Các cấp công đoàn tỉnh Bắc Giang thực hiện được đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp trên sẽ phát huy tối đa nội lực của tổ chức công đoàn, tăng cường vai trò của công đoàn cấp trên cơ sở trong việc hỗ trợ, đồng hành, hướng dẫn công đoàn cơ sở; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất và lượng trong đối thoại, thương lượng tập thể tại doanh nghiệp; góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, người lao động./.

                        Khắc Điều, Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang

 

 

 

 

Chuyên mục: